Quản Trị Nhân Sự Trong Khách Sạn Là Gì???

Quản Trị Nhân Sự Trong Khách Sạn Là Gì???
Rate this post

Hiện nay, khi mà xã hội ngày càng phát triển, con người càng có nhiều nhu cầu về ăn uống, vui chơi, giải trí, vì vậy mà hoạt động du lịch ngày càng phát triển, các địa điểm du lịch ngày càng nhiều gồm các địa điểm có thể đi về trong ngày thì còn có các địa điểm mà du khách phải lưu lại. Do đó, bên cạnh sự phát triển của ngành du lịch thì không thể nào thiếu sự phát triển của ngành khách sạn. Khi mà ngành khách sạn ngày càng “hot” thì những người kinh doanh về lĩnh vực khách sạn cần có cho riêng mình nguồn nhân lực mạnh để có thể cạnh tranh với nhau, muốn có một nguồn nhân lực mạnh thì cần phải đào tạo nhân lực một cách hiệu quả, vậy hôm nay thông qua bài viết này chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về việc quản trị nhân sự trong khách sạn.

Trước khi tìm hiểu về quản trị nhân sự trong khách sạn chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về kinh doanh khách sạn để giúp các bạn hiểu thêm về lĩnh vực này.

I. Tìm hiểu về khách sạn và đặc điểm kinh doanh của nó.

1- Kinh doanh khách sạn được hiểu như thế nào?

Về cơ bản kinh doanh khách sạn là một hoạt động kinh doanh nhằm mục đích cung cấp các dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi cho du khách của ngành du lịch tại địa điểm mà họ lụa chọn để lưu trú tạm thời.

Vì là ngành phục vụ du khách ăn uống, vui chơi nhằm đem lại lợi nhuận kinh tế cho ngành du lịch, cho đất nước cũng như cho bản thân người kinh doanh khạc sạn nên kinh doanh khách sạn gồm những chức năng sau: tổ chức, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm.
Vì những điều trên mà ngành kinh doanh khách sạn giữ một vị trí rất quan trọng. Kinh doanh khách sạn là điều kiện cơ bản, cần thiết để ngành du lịch có thể tồn tại và phát triển, khách sạn là nơi nghỉ ngơi cho khách du lịch, bên cạnh đó nó còn cung cấp các dịch vụ vui chơi, ăn uống. Tóm lại ngành kinh doanh khách sạn thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và đem lại nguồn lợi nhuận cho ngành du lịch cũng như cho bản thân nó đồng thời gắn kết ngành du lịch với các ngành khác.

2- Kinh doanh khách sạn có những đặc điểm gì?

Vì là ngành phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghỉ ngơi cho con người, sản phẩm tạo ra chủ yếu nhờ vào sự tiếp xúc giữa con người với nhau nên kinh doanh khách sạn có những đặc điểm riêng biệt với các ngành khác:

  • Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên: vì là ngành đáp ứng như cầu nghỉ ngơi cho du khách của ngành du lịch nên khách sạn bắt buộc phải được xây dựng tại nơi có tài nguyên du lịch. Ngoài ra, nếu muốn thu hút sự chú ý của du khách thì khách sạn cần có kiểu kiến trúc lạ, đẹp, gây được sự chú ý với các du khách.
  • Cần nguồn nhân lực lớn, chuyên môn cao: vì là ngành đáp ứng nhu cầu của con người nên khách sạn cần có nhân vien làm việc 24/24 để có thể kịp thời đáp ứng yêu cầu của du khách khi cần, do đó mà ngành này cần một lực lương nhân lực ;lớn để có thể thay thế nhau vừa đáp ứng kịp thời khi cần vừa đảm bảo được sức khỏe của người lao động trong ngành.
  • Đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu cũng như lâu dài cao: bất kỳ một ngành nào cũng cần có vốn đầu tư nhưng do kinh doanh khách sạn là ngành khá phụ thuộc vào ngành du lịch nên cần lượng vốn đầu tư cao hơn. Hiện nay, số lượng khách sạn khá nhiều để có thể thu hút du khách các khách sạn cần gây được sự chú ý nên vốn đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cũng cần được đầu tư rất nhiều.

3- Kinh doanh khách sạn có những loại hình dịch vụ nào?

Như đã biết kinh doanh khách sạn là ngành phục vụ trực tiếp cho con người nên sản phẩm mà nó tạo ra chủ yếu là các dịch vụ, các dịch vụ này được chia ra làm hai loại

Dịch vụ chính: là những dịch vụ cơ bản nhất, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của con người là ăn và ngủ hay còn gọi là dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống, về cơ bản các dịch vụ này giữ vị trí quan trọng nhất và là nguồn thu nhập chính của chủ khách sạn.

Dịch vụ bổ sung: ngoài các dịch vụ chính thì để thu hút được du khách các khách sạn không thể nào thiếu các dịch vụ bổ sung. Dịch vụ bổ sung thường bao gồm các dịch vụ về y tế, văn hóa, thể thao,… các dịch vụ này đáp ứng các như cầu vui chơi, giải trí của du khách.

Các dịch vụ bổ sung càng phong phú, đa dạng sẽ càng giữ chân được du khách lâu và nhờ vậy nguồn lợi mang lại cũng cao hơn.

II. Nguồn lao động trong du lịch và kinh doanh khách sạn

1-Cơ sở của lao động trong du lịch và khách sạn

Vậy với những đặc trưng cơ bản như trên thì ngành du lịch nói chung và ngành kinh doanh khách sạn nói riêng cần có nguồn lao động như thế nào?

Vì là một ngành cơ bản, nên lao động trong ngành du lịch tồn tại và phát triển dựa trên cơ sở của phân công lao động xã hội, có đầy đủ đặc điểm cơ bản của lao động xã hội nói chung như đáp ứng nhu cầu của xã hội về lao động, tạo ra của cải cho xã hội và phụ thuộc vào hình thái kinh tế. Ngoài các đặc điểm cơ bản trên trong lĩnh vực kinh doanh số lượng lao động cũng có các đặc điểm riêng của mình. Vì là ngành phục vụ du khách nên đòi hỏi lao động trong ngành cần có chuyên môn cao, việc này không chỉ các quản lý hay một số bộ phận mà là tất cả các bộ phận đều phải có chuyên môn cao. Đây là một trong những ngành đặc thù không có thời gian cố định ( do mỗi du khách có nhu cầu riêng, thời gian riêng) nên 24/24 các lao động luôn luôn phải trong trạng thái sẵn sàng, đòi hỏi các lao động phải chia ca, thay phiên nhau làm việc để vừa đáp ứng nhu cầu của ngành vừa đảm bảo sức khỏe bản thân. Vì nhu cầu của các du khách là khác nhau và lao động phải tiếp xúc trực tiếp với du khách ( mỗi người mỗi tính) do vậy áp lực về tâm lý là khó tránh khỏi ( đặc biệt là với lao động nữ).

Ngoài ra, đặc điểm về cơ cấu lao động của ngành du lịch cũng rất riêng. Nó là tổng hợp lao động của các ngành nghề khác nhau, tuy nhiên chiếm chủ yếu vẫn là lao động nghiệp vụ trong khách sạn. Lao động trong ngành có sự khác nhau về độ tuổi giữa nam và nữ, thông thường nữ là 20 – 30 tuổi và nam là 30 – 45 tuổi, các bộ phận quản lý thường cần lao động lớn tuổi hơn vì họ có kinh nghiệm dày dặn cũng như chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp cao hơn. Về cơ bản trình độ văn hóa của lao động trong ngành du lịch khá thấp nhưng đổi lại họ sẽ có trình độ chuyên môn cao ( chủ yếu là trình độ ngoại ngữ).

2- Cách xây dựng và triển khai nguồn lao động trong kinh doanh khách sạn

Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu về cách xây dựng và triển khai nguồn lao động trong kinh doanh khách sạn. Do du lịch là ngành phát triển ở những nơi có tài nguyên nên sự phân bố lao động là không đều và cũng do sự không ăn khớp giữa cung và cầu, kéo theo đó là sự ra đời của các Công ty kinh doanh – du lịch nhằm mục đích kết nối cũng và cầu.
Vậy lao động trong khách sạn có những đặc điểm gì giống và khác với ngành du lịch?

Nguồn lao động trong khách sạn cũng như các nguồn lao động trong những ngành khác, họ làm việc trong khách sạn nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của khách hàng, chỉ khác là sản phẩm của họ đa số là sản phẩm phi vật thể.

Lao động trong khách sạn cũng tương tự như lao động trong ngành du lịch, vì đều là những ngành có “mùa” nên lao động đều có tính biến động cao. Khi mùa du lịch đến, lượng du khách đông cần số lượng nhân viên rất lón ngược lại khi hết mùa du lịch số lượng nhân viên rất ít hầu như chỉ cần quản lý, bảo vệ, và một số nhân viên bảo dưỡng… vì là một ngành phục vụ và tiếp xúc trực tiếp với du khách nên lao động trong khách sạn cần có chuyên môn hóa cao, kĩ năng làm việc và trình độ chuyên nghiệp, do đó rất ít khi xảy ra trường hợp thay thế nhân viên vì nếu có bất kỳ sự thay thế nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh.

Lao động trong khách sạn yêu cầu có độ tuổi trẻ ( khoảng từ 20 – 40 tuổi). Độ tuổi này thay đổi theo từng bộ phận của khách sạn:

  • Bộ phận lễ tân: từ 20 –25 tuổi
  • Bộ phận bàn, Bar : từ 20 –30 tuổi
  • Bộ phận buồng: 25 – 40 tuổi

Bộ phận có độ tuổi cao nhất quản lý, vì bộ phận này cần có kinh nghiệm và chuyên môn cao.

Ngoài ra, đa số lao động trong khách sạn là nữ, vì lao động nữ thường khéo léo và phù hợp hơn với các bộ phận như Buồng, Bar, Lễ tân, nhưng cũng không thể thiếu các lao động nam ở các bộ phận như bảo vệ, quản lý,…

Vì yêu cầu đối với lao động trong khách sạn khá khắt khe và lao động có tính chu kỳ nên cần có các biện pháp tổ chức linh hoạt, có hiệu quả. Khi có một bộ phần nào đó cần lực lượng trẻ mà hiện tại bộ phận đó chỉ có những người lớn tuổi thì cần phải có các biện pháp hợp lý để chuyển người tránh gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách sạn.

III. Quản trị nhân sự trong khách sạn

Vậy để quản trị nhân sự trong khách sạn một cách hợp lý có hiệu quả cần thực hiện các nội dung sau:

1- Lên kế hoạch tổng thể về công việc

Bản kế hoạch tổng thể về công việc là văn bản mô tả các yêu cầu, kĩ năng, phương pháp làm việc của một công việc nào đó. Để bản kế hoạch có thể đem lại hiệu quả cao nhất cần chú ý bám sát nội dung và các nguyên tắc cần có trong công việc

Bản kế hoạch tổng thể về  công việc là một nội dung rất quan trọng, có bản kế hoạch tổng thể về công việc sẽ giúp các nhân viên thực hiện công việc có hiệu quả, đồng thời cũng giúp các quản lý đánh giá về năng lực của các nhân viên chính xác hơn từ đó tiến hành trả thù lao xứng đáng và công bằng với các nhân viên. Nó còn giúp cho việc đề bạt nhân viên dễ dàng hơn và cũng giúp cho việc quản trị nhân lực tiết kiệm được thời gian và công sức hơn.

2- Lập kế hoạch tuyển chọn nhân lực

Đối với ngành này nguồn nhân lực cần đáp ứng được các nhu cầu cơ bản như trình độ học vấn của lao động, trình độ ngoại ngữ chuyên môn, ngoại hình, độ tuổi, giới tính, sức khoẻ, tâm lý và đạo đức, khả năng giao tiếp, kiến thức về tâm lý.

Việc tuyển chọn nguồn nhân lực được tiến hành tốt thì sẽ góp phần tiết kiệm được thời gian và công sức trong việc đào tạo sau này. Để tuyển chọn được các nhân viên tốt cần thực hiện các nước sau:

– Bước 1: Xác định nhu cầu về nguồn nhân lực

Vì là ngành có nguồn lao động biến động theo mùa nên tùy thuộc vào thời điểm mà khách sạn sẽ cần có nguồn lao động khác nhau, số lượng lao động còn phụ thuộc vào quy mô, hoạt động và trình độ của từng khách sạn. khi tuyển chọn nhân lực cần phải làm rõ 2 điểm chính đó là nhu cầu thiếu hụt về nhân lực và nhu cầu tuyển thêm nhân lực. Nhu cầu thiếu hụt nghĩa là số lượng nhân viên mà khách sạn còn thiếu. Nhu cầu tuyển thêm nghĩa là số lượng cụ thể nhân viên mà các bộ phận cần, về cơ bản nhu cầu tuyển thêm là nhu cầu thiếu hụt sau khi đã sử dụng tất cả biện pháp nhưng vẫn không đủ

– Bước 2: Xác định mức lao động:

Xác định mức lao động nghĩa là xác định xem số lượng công việc mà một lao động có khả năng hoàn thành được trong một đơn vị thời gian.

Định mức lao động của lao động trong khách sạn nghĩa là trừ khả năng làm việc còn cần phải có khả năng sang tạo và định mức lao động không bao giờ được cố định đồng thời phải do bản thân lao động tự phấn đấu, tự cố gắng.

Định mức lao động thường được đánh giá dựa trên các số liệu sau:

  • Dựa trên thống kê về định mức lao động ở các cơ sở khác có điều kiện kinh doanh gần giống với mình
  • Dựa trên định mức lao động của cơ sở ở những thời kỳ trước
  • Dựa trên định mức lao động trung bình, tiên tiến của các khách sạn trên thế giới
  • Dựa trên thống kê định mức lao động của đối thủ cạnh tranh
  • Dựa trên quy trình tổ chức phục vụ của từng bộ phận, dựa trên số lượng chủng loại các dịch vụ bổ sung đi kèm.

Về cơ bản, định mức lao động trong khách sạn được chia ra làm 2 loại là định mức chung ( định mức lao động cần thiết được xây dựng chung cho toàn bộ khách sạn) và định mức lao động bộ phận ( là định mức lao động của các bộ phận kinh doanh).

– Bước 3: Thông báo tuyển nhân viên

Sau khi đã qua bước 1 và 2 các khách sạn cần thông báo tuyển nhân viên, việc này cần phải được thực hiện nghiêm túc. Thông báo tuyển nhân viên cần đưa ra được các vị trí cần tuyển, yêu cầu với các vị trí đó. Việc thông báo chính xác thông tin về các vị trí cần tuyển sẽ tiết kiệm được thời gian tuyển chọn nhân viện.

– Bước 4: thu thập và phân loại hồ sơ
Sau khi đã thông báo tuyển chọn các khách sạn sẽ nhận được CV của người ứng tuyển, tiếp đó các khách sạn cần tiến hành xem xét và sắp xếp hồ sơ dựa trên các yêu cầu tuyển chọn.

– Bước 5: tổ chức tuyển chọn trực tiếp
Để tuyển chọn được nguồn nhân lực mạnh cần có hệ thống tuyển chọn khoa học và phương pháp tuyển chọn hợp lý, trong bài viết này chúng tôi sẽ đưa ra 2 phương pháp tuyển chọn cơ bản nhất:

Phương pháp trắc nghiệm: 4 phương pháp

  • Trắc nghiệm trí thông minh, sự thích nghi, trình độ văn hoá
  • Trắc nghiệm về kỹ năng, kỹ xảo
  • Trắc nghiệm về sự quan tâm, những vấn đề quan tâm hay thích thú
  • Trắc nghiệm về nhân các

Phương pháp phỏng vấn: có 2 quá trình

  • Phỏng vấn ban đầu: Dùng để loại trừ những người xin việc không đạt tiêu chuẩn, không đủ trình độ
  • Phỏng vấn đánh giá: được tiến hành để duyệt lại tất cả mọi vấn đề thuộc khả năng của người xin việc. Điều này cho phép người phỏng vấn ra quyết định cuối cùng việc tuyển chọn hay không.

– Bước 6: thông báo cho người trúng tuyển

Đây là bước cuối cùng trong việc tuyển chọn nhân lực. Các khách sạn sẽ thống báo cho những người phù hợp với yêu cầu của mình. Về cơ bản thì chỉ cần thông báo thời gian và địa điểm đến để kí hợp đồng.

Sau khi đã tuyển chọn được các nhân lực tốt các khách sạn sẽ tiến hành đào tạo nguồn nhân lực đó.

3- Phương án đào tạo nhân lực

Do ngành du lịch ngày càng phát triển, yêu cầu của du khách cũng ngày càng cao nên nguồn nhân lực phải được đào tạo có hiệu quả nhất và đón đầu được yêu cầu của các du khách trong thời gian tới

Có các phương pháp đào tạo cơ bản nhất là:

  • Đào tạo tập trung: là hình thức tập trung cho những đối tượng chưa biết gì về công việc trong du lịch, học tập trung tại trung tâm hoặc 1 cơ sở nào đó theo một chương trình cơ bản.
  • Đào tạo theo hình thức tại chức, đối tượng đào tạo là những người đã có những kiến thức nhất định về du lịch hay đã được học nhưng chưa đạt tiêu chuẩn thì tiến hành đào tạo lại

Tương tự như phương pháp đào tạo thì thời gian đào tạo cũng được chia làm 2 loại:

  • Đào tạo ngắn hạn: Là đào tạo trong một thời gian ngắn về một nghiệp vụ nào đó, thông thường chương trình đào tạo đơn giản, ngắn, đi sâu vào các thao tác, kỹ năng, kỹ xảo về một nghiệp vụ nào đó. Mục đích của chương trình đào tạo này nhằm có thể sử dụng ngay nguồn nhân lực, đáp ứng ngay được nhu cầu về nhân lực của khách sạn.
  • Đào tạo dài hạn, là đào tạo trong một thời gian dài, thông thường từ 2 năm trở lên, học viên được học theo một chương trình cơ bản. Chương trình đào tạo này đa phần là giành cho các nhà quản lý hay nhân viên kỹ thuật cao, làm việc trong những bộ phận cần có trình độ cao.

Về nội dung đào tạo thì tùy thuộc vào các khách sạn khác nhau sẽ có nội dung đào tạo phù hợp với cơ sở vật chất, yêu cầu riêng của mình.

4- Các chỉ tiêu xem xét hiệu quả lao động

Sau khi đào tạo lao động thì khách sạn sẽ đem vào sử dụng. Sau một thời gian khách sạn sẽ đạt được các hiệu quả lao động nhất định và họ sẽ dựa vào đó để dánh giá hiệu quả lao động. Đánh giá hiệu quả lao động thường căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu về năng suất lao động (W): được tính bằng tổng doanh thu trên tổng số nhân viên hoặc tổng khối lượng sản phẩm trên tổng số lượng lao động

Số lượng này cho thấy mức độ sử dụng hiểu quả lao động của một khách sạn. Nó được tính toán căn cứ vào số lượng sản phẩm hoặc doanh thu mà số lượng lao động tạo ra được trong một đơn vị thời gian.

Bình thường trong ngành du lịch và khách sạn khối lượng sản phẩm tạo ra được tính dựa trên ngày khoán, tức là chỉ tiêu bình quân trên một lao đông = lợi nhuận / số lao động bình quân.

Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ khách sạn sử dụng lao động càng hợp lí.
Hệ số sử dụng lao động theo quỹ thời gian, đây là hệ số thể hiện cường độ lao động theo thời gian, hệ số này càng cao thì càng chứng tỏ được sự cố gang, nỗ lực của lực lượng lao động trong công việc. Hệ số này được tính bằng công thức: Hệ số sử dụng lao động theo quỹ thời gian = thời gian làm việc thực tế / thời gian làm việc quy định

5- Biện pháp khắc phục

Qua các số liệu trên các khách sạn sẽ đưa ra các biện pháp hợp lý để khắc phục các mặt yếu kém hay phát triển các mặt có tiến triển tốt.

Sau khi đánh giá hiệu quả lao động các khách sạn sẽ tiến hành trả lương cho nhân viên nhằm khích lệ nhân viên làm việc tốt hơn và đối với nhân viên tiền lương là sự cỗ vũ cũng như là sự đền đáp cho công lao của họ khi hoàn thành tốt công việc.Có rất nhiều hình thức trả lương nhưng hiện nay phổ biến nhất là trả lương theo tháng.

Cách xác định quỹ lương: Quỹ lương là tổng số tiền lương được tính bằng thu nhập trừ đi các khoản chi phí, trừ đi thuế (nếu có)

Tổng thu nhập = tổng doanh thu – Chi phí – Thuế (nếu có)

Các nhà kinh doanh thường căn cứ vào quỹ tiền lương cùng với các thành tích của các nhân viên để phát lương cũng như có chính sách thưởng phạt xứng đáng.

Tiền lương = Tổng số giờ công lao động x Đơn giá tiền lương

Trong đó đơn giá tiền lương = quỹ lương / tổng số giờ công lao động

Nói tóm lại, việc quản lý nhân sự đóng vai trò quan trọng trong sự sống còn của doanh nghiệp, nếu quản lý nhân sự không hiệu quả có thể dẫn đến sự sụp đổ của một doanh nghiệp và ngược lại. Từ tất cả những điều trên các doanh nghiệp cần quan tâm đến vấn đề quản lý nhân sự để khai thác nguồn nhân lực đang có một cách hiệu quả tối đa.

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here